Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 2 – Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: Bình quân gia quyền, Nhập trước xuất trước (FIFO) hay Tự đi mà tìm hiểu (FOFO)?!
Vài năm trước, thời còn học ACCA, tôi thật may mắn khi được theo học một giảng viên không những hiểu biết sâu rộng, luôn đi thẳng vào vấn đề mà còn cực kỳ vui tính.
Khi học về hàng tồn kho, thầy đã kể chúng tôi nghe câu chuyện “đi job” của một trợ lý kiểm toán tại một công ty phân phối lớn. Câu chuyện như sau:
Anh trợ lý kiểm toán này thực hiện phần hành kiểm toán hàng tồn kho. Vừa lúc nhận được file Excel về danh sách hàng tồn kho (với đầy đủ số lượng và đơn giá), anh ta đảo qua một lượt và nhận ra có đến 2 cột “số lượng”, ngay lập tức anh ta tới chất vấn CFO (Giám đốc Tài chính):
“Ngài giám đốc, tại sao lại có đến 2 cột số lượng ở đây?”
CFO nói: “Cột đầu tiên là số lượng dựa trên nhập xuất trong kỳ, cột còn lại là số lượng dựa theo kết quả thực đếm cuối năm.”
Cảm thấy mọi thứ đã đủ rõ ràng, anh trợ lý kiểm toán ghi lại câu trả lời của CFO và trở lại phòng làm việc, tiếp tục công việc kiểm toán của mình.
Và rồi anh ta nhận ra lại có thêm một cột chênh lệch nên quay trở lại phòng CFO.
CFO vừa đọc xong báo cáo do trưởng phòng tài chính gửi, dù đang vội chuẩn bị cho cuộc họp ngay sau đó, nhưng vẫn rất lịch sự mời anh trợ lý kiểm toán vào phòng.
“Ngài giám đốc, anh đã làm gì với những chênh lệch này vậy hả?”
CFO thầm nghĩ: ‘Chậc, cái này chẳng phải quá rõ ràng trên bảng cân đối thử rồi sao?’, nhưng vẫn kiên nhẫn đáp:
“Chúng tôi ghi nhận các chênh lệch đó trên báo cáo lãi lỗ, lượng dư thừa và lượng thâm hụt. Lượng thiếu hụt trong hạn mức xác định trước sẽ được tính vào giá vốn hàng bán, lượng còn lại sẽ tính vào chi phí.”
Hmmm, anh trợ lý kiểm toán cảm thấy hài lòng với câu trả lời của CFO, tuy nhiên lại không để ý thấy CFO bắt đầu cảm thấy phiền phức khi anh ta cứ chạy qua chạy lại chỉ để thắc mắc những vấn đề quá đỗi đơn giản như vậy.
Anh trợ lý kiểm toán tiếp tục công việc kiểm toán hàng tồn kho của mình và đột nhiên, một vấn đề nữa lại nảy sinh. Ngay lập tức, anh ta chạy ngay đến phòng CFO, gõ cửa cho có lệ rồi xông thẳng vào hỏi:
“Công ty anh sử dụng phương pháp nào để tính giá trị hàng tồn kho vậy? Nhập trước xuất trước (FIFO)? Hay bình quân gia quyền?”
CFO đang thưởng thức dở cốc cà phê sau một bài báo cáo, giận tím mặt nói:
“Không, chúng tôi dùng FOFO cơ.”
“FOFO? Là phương pháp gì vậy???” anh trợ lý kiểm toán thắc mắc.
“F_CK OFF FIND OUT!!!” (TỰ ĐI MÀ TÌM HIỂU!!)
Mọi người trong lớp cười ầm lên sau khi giảng viên kết thúc câu chuyện. Từ đó tôi nhớ rất kĩ các phương pháp tính giá trị hàng tồn kho.
Hy vọng các bạn cũng sẽ như tôi sau khi đọc xong bài viết này!
Các phương pháp tính giá trị hàng tồn kho?
Giả sử môt công ty mua 1000 thanh socola giá 30 VNĐ (đơn vị tiền tệ) một thanh. Định khoản như sau:
- Nợ Hàng tồn kho: VNĐ 30 000 (1 000*30)
- Có Tài khoản phải trả người bán: VNĐ 30 000
Công ty bán 200 thanh giá 40 VNĐ/thanh. Định khoản như sau:
- Nợ Tài khoản phải thu khách hàng: VNĐ 8 000 (200*40)
- Có Doanh thu từ hoạt động bán hàng: VNĐ 8 000
Công ty ghi nhận số socola đã xuất kho như sau:
- Nợ Giá vốn hàng bán: VNĐ 6 000 (200*30)
- Có Hàng tồn kho: VNĐ 6 000
Trong ví dụ trên, công ty xác định được rõ Giá vốn hàng bán do giá bán là 30 VNĐ/thanh.
Nhưng chuyên gì sẽ xảy ra nếu công ty mua socola theo lô với các mức giá khác nhau?
Ví dụ, giả sử công ty mua 100 thanh socola giá 31 VNĐ/thanh, 150 thanh giá 32.50 VNĐ/thanh, 200 thanh giá 29 VNĐ/thanh...
Trong trường hợp này, giá vốn hàng bán là bao nhiêu?
Giá vốn hàng bán sẽ phụ thuộc vào phương pháp tính giá trị hàng tồn kho công ty sử dụng.
Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 2 Hàng tồn kho quy định những gì?
IAS 2 quy định:
- Với hàng tồn kho không giống nhau; và
- Hàng hóa dịch vụ được sản xuất tách biệt cho các dự án nhất định, phải sử dụng phương pháp tính theo giá đích danh để xác định giá trị hàng hóa dịch vụ.
Trong thực tiễn, điều này có thể hơi bất thường, nhưng vẫn xảy ra với trường hợp hàng hóa xa xỉ hay đặc biệt độc đáo trên thị trường, ví dụ như đồ trang sức, đồ cổ hoặc một số hãng xe hơi.
Với hàng tồn kho tương đối giống nhau (ví dụ như hàng hóa số lượng lớn), IAS 2 cho phép sử dụng phương pháp sau để xác định giá trị hàng tồn kho:
- Hoặc Nhập trước xuất trước FIFO
- Hoặc Bình quân gia quyền.
Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho
|
FIFO
|
Bình quân gia quyền
|
LIFO
|
IAS 2 chấp nhận
Hàng nhập đầu tiên sẽ được bán ra trước
|
IAS 2 chấp nhận
Đơn giá được tính theo bình quân gia quyền
|
IAS không chấp nhận
Hàng nhập sau cùng sẽ bán ra trước
|
IAS không cho phép sử dụng LIFO (nhập sau xuất trước). Nguyên tắc kế toán được thừa nhận tại Mỹ (US GAAP) và một số chuẩn mực kế toán khác vẫn chấp nhận LIFO.
Ví dụ minh họa: Socola tuyệt hảo
Trong năm 20X1, Yummie – một công ty phân phối bánh kẹo và socola – thực hiện các giao dịch mua sản phẩm mới “Socola tuyệt hảo” như sau:
- 10/1/20X1: 1 000 thanh; đơn giá 28.00 VNĐ/thanh;
- 14/2/20X1: 1 500 thanh; đơn giá 28.20 VNĐ/thanh;
- 17/3/20X1: 3 000 thanh; đơn giá 28.40 VNĐ/thanh;
- 18/6/20X1: 2 500 thanh; đơn giá 28.55 VNĐ/thanh.
Do “Socola tuyệt hảo” vẫn là một sản phẩm mới, chiến dịch quảng cáo rộng rãi sản phẩm dự kiến thực hiện sau 1/7/20X1, Yummie chỉ bán được một lô 4 200 thanh “Socola tuyệt hảo” với giá 159 600 VNĐ vào ngày 2/5/20X1.
Yêu cầu: Xác định giá trị “Socola tuyệt hảo” trong kho của Yummie tại thời điểm 30/6/20X1?
Lời giải
Như đã trình bày phía trên, kết quả phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp tính giá trị hàng tồn kho sử dụng.
Giá trị hàng hóa xuất kho vẫn phải được xác định theo một trong các phương pháp tính giá trị hàng tồn kho nêu trên.
Lưu ý con số 159 600 VNĐ nêu ra cốt để đánh lạc hướng bạn, KHÔNG HỀ liên quan đến việc xác định giá trị hàng còn trong kho bởi nó là giá bán.
Nếu bỏ qua công thức tính giá trị hàng tồn kho, ta có thể xác định số lượng “Socola tuyệt hảo” tồn kho như sau: 1 000 + 1 500 + 3 000 + 2 500 – 4 200 = 3 800 thanh.
Bây giờ, chúng ta sẽ sử dụng các phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho khác nhau để xác định giá trị của 3 800 thanh socola này.
FIFO (Nhập trước xuất trước)
Tôi tạm gọi phương pháp này là “trình tự thời gian”. Lý do: khi áp dụng phương pháp này, hàng trong kho được xuất bán theo trình tự nhập kho.
Trong ví dụ trên, khi Yummie bán 4 200 thanh Socola tuyệt hảo, theo FIFO:
Tất cả lượng socola nhập kho ngày 10/1/20X1 – 1 000; 28.00 VNĐ/thanh
Tất cả lượng socola nhập kho ngày 14/2/20X1 – 1 500; 28.20 VNĐ/thanh
1 700 thanh (= 4 200 – 1 000 – 1 500) của ngày 17/3/20X1 có giá 28.40/thanh.
Bạn hoàn toàn có thể tính được giá vốn hàng bán, nhưng đề bài không yêu cầu nên chúng ta tạm bỏ qua phần này.
Giả sử bạn bán hàng từ lô nhập đầu tiên, lẽ đương nhiên lô hàng nhập gần nhất sẽ vẫn tồn trong kho.
Lượng socola còn trong kho là: 3 800, trong đó:
2 500 thanh mua ngày 18/6/20X1 với giá 28.55 VNĐ/thanh – tổng giá trị là 71 375 VNĐ;
1 300 thanh còn lại của ngày 17/3/20X1 với giá 28.40 VNĐ/thanh – tổng giá trị là 36 920 VNĐ;
Vậy, tổng giá trị lượng Socola tuyệt hảo tồn kho tính theo phương pháp FIFO tại thời điểm 30/6/20X1 là 108 295 VNĐ.
LIFO (Nhập sau xuất trước)
Phương pháp này gần như tương tự FIFO, chỉ khác một điểm duy nhất: với LIFO, lô hàng nhập sau cùng sẽ được bán ra trước. Kết quả là, lô hàng nhập sau cùng sẽ bán ra hết.
Đây chính là nguyên nhân chính IAS 2 không chấp nhận LIFO.
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS tập trung chủ yếu vào các con số trên bảng cân đối kế toán. Mỗi con số trên bảng cân đối kế toán của công ty cần phản ánh thị trường và điều kiện kinh tế hiện tại càng rõ rệt càng tốt, và đây chính là điều LIFO KHÔNG THỂ làm được.
Tại sao?
Lý do là: khi áp dụng FIFO, giá của lô nhập kho gần nhất sẽ được sử dụng để tính giá vốn hàng bán; các lô hàng nhập từ trước sẽ vẫn giữ trong kho và được phản ánh trên bảng cân đối kế toán.
Nói cách khác, giá trị hàng tồn kho khi áp dụng LIFO sẽ không được cập nhật. Đồng thời, áp dụng LIFO có thể làm tăng giá vốn hàng bán.
Chúng ta hãy cùng giải quyết ví dụ đã cho bằng phương pháp LIFO.
Với FIFO, khi xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ, bạn sẽ phải sử dụng số liệu của lô hàng nhập gần thời điểm tính nhất, còn với FIFO, bạn sẽ sử dụng số liệu của lô hàng nhập xa thời điểm tính nhất.
Vì vậy, 3 800 thanh socola trong kho sẽ được tính như sau:
- 1 000 thanh mua ngày 10/1 với giá 28.00 VNĐ/thanh – tổng giá trị là 28 000 VNĐ;
- 1 500 thanh mua ngày 14/2 với giá VNĐ 28.20 VNĐ/thanh – tổng giá trị là 42 300 VNĐ;
- 1 300 thanh còn lại phải lấy từ đợt mua ngày 17/3/20X1 với giá 28.40 VNĐ/thanh – tổng giá trị là 36 920 VNĐ;
Tổng giá trị Socola tuyệt hảo tồn kho tại thời điểm 30/6/20X1 tính theo LIFO là 107 220 VNĐ.
Sơ đồ sau nêu rõ sự khác biệt giữa hai phương pháp FIFO và LIFO:
FIFO
|
Ngày
|
Thanh toán
|
LIFO
|
|
10/01/20X1
|
1 000 x 28.00 VNĐ
|
1 000x28.00
|
|
14/02/20X1
|
1 500 x 28.20 VNĐ
|
1 500 x 28.20
|
1 300 x 28.40
|
17/03/20X1
|
3 000 x 28.40 VNĐ
|
1 3000 x 28.40
|
2 500 x 28.55
|
18/06/20X1
|
2 500 x 28.55 VNĐ
|
|
3 800
108.245 VNĐ
|
|
|
3 800
107 220 VNĐ
|
Bình quân gia quyền
Theo phương pháp bình quân gia quyền, đơn giá xuất kho của hàng tồn kho sẽ được tính theo giá bình quân gia quyền của lần nhập trước đó.
Trên thực tế, bạn cần tính lại giá bình quân gia quyền của mỗi lần nhập. Khi xuất kho bán hàng, bạn sẽ tính đơn giá xuất kho theo giá bình quân gia quyền mới nhất.
Phương pháp này được minh họa theo bảng sau:
Ngày
|
Nhập
|
Xuất
|
Tồn
|
Đơn giá
|
10/1/20X1
|
1000*28.00 = 28 000
|
-
|
28 000
|
28.00
|
14/2/20X1
|
1500*28.20 = 42 300
|
-
|
70300 (28 000+42 000)
|
28.12 (70 300/(1 000+1 500)
|
17/3/20X1
|
3000*28.40 = 85 200
|
-
|
155500 (70 300+85 200)
|
28.27 (155 500/5 500)
|
2/5/20X1
|
-
|
4 200*28.27
|
36751 (1 300*28.27)
|
28.27 (như trên)
|
18/6/20X1
|
2500*28.55 = 71 375
|
-
|
108126 (36 751+71 375)
|
28.45 (108 126/3 800)
|
Lưu ý:
Cột cuối cùng là đơn giá bình quân. Cột này thay đổi sau mỗi lần nhập kho.
Đơn giá bình quân không đổi sau khi xuất kho bán hàng vào ngày 2/5/20X1. Điều này là hợp lý bởi không có yếu tố ảnh hưởng đến giá bình quân.
Tóm lại…
Chúng ta đã sử dụng 3 phương pháp tính cho ra 3 kết quả khác nhau của giá trị hàng tồn kho tại thời điểm 30/6/20X1:
- Nhập trước xuất trước (FIFO): 108 295 VNĐ
- Nhập sau xuất trước (LIFO): 107 220 VNĐ
- Bình quân gia quyền: 108 126 VNĐ
Lưu ý IAS 2 không chấp nhận phương pháp LIFO.
Lưu ý khi kiểm toán: xác định số dư hàng tồn kho tính theo FIFO dễ dàng hơn khi tính bằng phương pháp bình quân gia quyền, bởi kiểm toán viên có thể theo dõi thời gian, số lượng nhập kho gần nhất của công ty theo FIFO; với phương pháp bình quân gia quyền, việc này tương đối khó khăn.
Theo Ajisai - Vietsourcing lược dịch
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét